14:03 EST Thứ năm, 13/12/2018

Trang nhất » Tin Tức » Bài viết về trường Đa Phúc

Mái trường xưa

Thứ ba - 16/04/2013 11:55
Mái trường xưa

Mái trường xưa

Xa trường đã lâu rồi, hơn bốn chục năm, nhưng mỗi khi nhớ về mảnh đất trung du với mái trường xưa, lòng tôi vẫn rưng rưng, như ở nơi ấy, một mảnh tâm hồn xa xưa của mình vẫn còn để lại đâu đây.
MÁI TRƯNG XƯA

 
       Xa trường đã lâu rồi, hơn bốn chục năm, nhưng mỗi khi nhớ về mảnh đất trung du với mái trường xưa, lòng tôi vẫn rưng rưng, như ở nơi ấy, một mảnh tâm hồn xa xưa của mình vẫn còn để lại đâu đây. Và, mỗi lần trở về Đa Phúc, tôi như gặp lại tuổi trẻ của mình. Những năm tuổi trẻ của tôi, dường như vẫn được lưu giữ trong lòng những người bạn đồng nghiệp, trong lòng các em học sinh thân thương thuở ấy. Cũng như lòng tôi luôn nâng niu lưu giữ hình ảnh của họ, tuổi trẻ của họ và những kỷ niệm về họ.
 
Những người bạn đồng nghiệp quý mến của tôi

Năm đầu tiên thành lập, trường được đặt ở Phủ Lỗ, với tên là Trường cấp 3 Nguyễn Đình Chiểu. Năm học thứ hai (1964-1965), thày Nguyễn Minh Tộ được cử làm Hiệu tưởng, trường mới chỉ có bốn lớp học với đội ngũ giáo viên hơn một chục người. Khoảng học kỳ 2, trường chuyển về Đa Phúc, đổi tên là Trường cấp 3 Đa Phúc.
          Tôi là cô giáo duy nhất và cũng ít tuổi nhất, vừa ra trường, thấy mình thật may mắn được sống trong tập thể giáo viên trẻ trung ấy. Sau này, sống và làm việc ở nhiều nơi, tôi không sao tìm lại được nữa một tập thể nào như thế. Mọi người sống với nhau thân thiết, chia sẻ và quan tâm đến nhau một cách tự nhiên như gia đình vậy.
          Ngày ấy, trường mới chỉ là dãy nhà một tầng, có năm phòng, bốn phòng dành cho lớp học, còn phòng trong cùng là nơi ở và làm việc của các thày, cô giáo. Tôi được ưu tiên ngăn riêng một chỗ vừa đủ kê một chiếc giường nhỏ và một cái bàn làm việc. Vách ngăn thì tận dụng mấy cái tủ đựng hồ sơ  và vài tấm ván mỏng. Cả phòng chỉ có một cửa ra vào chung nên mọi người vào ra đều phải đi qua “phòng riêng” của tôi. Thế mà chẳng ai thấy phiền phức, khó chịu vì có một cá thể khác giới hiện hữu ở đấy cả. Mọi người vui vẻ chia sẻ với nhau mọi thứ, từ chuyện học hành của học sinh, bài giảng trên lớp, đến bữa cơm tập thể đạm bạc, và cả những thứ được xem như tài sản riêng là tiền lương và 3 lạng đường mỗi tháng.
          Thày hiệu trưởng Nguyễn Minh Tộ như là người anh lớn của chúng tôi hồi đó, dù khi ấy thày mới 26 tuổi (sao hiệu trưởng mà trẻ thế nhỉ?). Trường tuy nhỏ nhưng đầy khó khăn và đủ thứ việc phải lo toan. Những ngày đầu, ngoài giảng dạy, giáo viên  còn phải lo xây dựng trường. Nhiều chủ nhật, chúng tôi phải cuốc bộ từ Phủ Lỗ lên Đa Phúc để lao động, cuốc đất, dọn dẹp, đặt nền móng đầu tiên cho ngôi trường mới. Rồi kinh phí lấy đâu ra cho đủ? Anh Tộ phải gặp gỡ Ủy ban Huyện, các ban ngành, lo từng viên gạch, bao xi măng. Rồi bếp ăn tập thể của giáo viên, khi thì cửa hàng mậu dịch hết gạo, không có than củi, khi thì không có cấp dưỡng… Rồi học sinh bỏ học hàng loạt do gia đình các em quá khó khăn, giáo viên phải chia nhau đi vận động để các em lại được đến trường. Rồi chiến tranh, bom đạn ác liệt, trường sơ tán vào Rừng Cơm, các lớp học đào sâu vào lòng đất với ngang dọc giao thông hào. Thày hiệu trưởng chỉ đạo thày trò lo chỗ học an toàn cho học sinh, lo nơi ăn ở và làm việc cho giáo viên, lo quan hệ với chính quyền và nhân dân địa phương. Tháng tháng, dù bom rơi, đạn nổ, thày một mình đạp cái xe đạp Phượng hoàng màu xanh lên Ty Giáo dục, tận Vĩnh Yên, Phú Thọ gì đó  để báo cáo tình hình, nhận chỉ thị… Thày cứ điềm tĩnh, vui vẻ lo chu toàn mọi việc, làm chỗ dựa vững vàng cho cả trường trong suốt bao nhiêu năm làm hiệu trưởng.
          Một hình mẫu khác cũng thật ấn tượng với tôi  là cô giáo Trần Thị Anh Thư. Cô Thư là hình ảnh mẫu mực của người thày  ngày ấy: giản dị, nghiêm túc, tận tụy. Về trường sau tôi một năm và dù chỉ hơn tôi vài tuổi thôi, nhưng cô có dáng vẻ thật chững chạc, tự tin. Cái dáng vẻ tôi rất mong có mà học mãi vẫn không có được. Là cô giáo dạy Vật lý, một môn học tự nhiên, nhưng cô có một tâm hồn phong phú và nhạy cảm (đa cảm nữa). Sau này, tôi rời trường, thỉnh thoảng hai chị em vẫn viết thư cho nhau. Trong mỗi bức thư, chúng tôi vẫn thường chép gửi đi những vần thơ yêu thích. Khi viết luận án về từ láy tiếng Việt ở Viện Ngôn ngữ học, tôi đã dùng mấy câu thơ trong thư chị gửi về làm dẫn chứng:
                   Đường tình đã nở hoa xoan,
                    Xôn xao gió gợn, hân hoan lá chờ.
                   Trên cao ngan ngát hương đưa,
                   Em ơi tim tím, mơ mờ chùm hoa.
          Ở cái tuổi ấy mà chị còn rung động với những vần thơ như thế thì quả là lãng mạn, cái lãng mạn không dễ gì có được vào thời buổi này.
          Những kỷ niệm chị kể về trường mình ở trong thư cứ nho nhỏ, mỏng manh mà sao gợi nhớ, sao nao lòng đến thế !
          Hai thày giáo dạy Toán về trường cùng năm với tôi đều có họ Trần. Thày Trần Bình và thày Trần Văn Khôi.
          Thày Trần Bình là người vô cùng nghiêm túc và sôi sục nhiệt tình. Thày đã định làm gì là làm ngay và làm bằng được. Là bí thư Đoàn trường, thày tổ chức cho các em học nhóm buổi tối, học sinh lớp trên đến kèm cặp cho các em lớp dưới học, giáo viên cũng đến chăm lo cho các nhóm học bài. Không khí học tập của học sinh rất vui và hiệu quả. Thày quan tâm đến việc học hành  và hoàn cảnh sống của từng em học sinh lớp thày làm chủ nhiệm. Các em rất kính trọng và quý mến thày. Chỉ có điều là, hình như thày có cái nhìn hơi khắt khe với kiểu cách, điệu bộ của “người Hà Nội”. May mà tôi chưa bị ghét. Chắc là thày chỉ xem tôi như cô em út, không thèm chấp!
          Thày Khôi lại có phong cách riêng. Tính thày thật thoải mái, phóng khoáng, nhìn cái gì cũng thành chuyện hài hước được. Với thày, mỗi người đều có giá trị như một con người, chẳng có cớ gì để khinh ghét ai cả. Người có chức tước, quyền uy đến mấy, thày cũng không quá nể trọng. Người thấp kém đến đâu, thày cũng không hề xem thường. Tôi thích cách sống nhân văn ấy, còn học sinh thì lại càng “mê” thày, lúc nào cũng quấn quít xung quanh như với người anh cả. Dù bên ngoài có vẻ “tếu táo”, thày khá tinh tế trong ứng xử. Có lần trường cấp 1 (nơi thằng em tôi đang học) mời tôi dự buổi họp phụ huynh đầu tiên. Tôi lúng túng không biết nên cư xử thế nào cho “phải đạo”. Tối hôm trước ngày đi họp, tôi thấy trên tờ lịch bàn của mình có dòng chữ “ Tuổi 20 nhảy nhót và ước mơ! Hãy cúi chào thày hiệu trưởng trường cấp 1 kính cẩn như các vị phụ huynh quê”. Thật chu đáo và tế nhị! Lại một kỷ niệm đáng nhớ nữa: hồi tôi có cháu nhỏ, mùa rét trung du  khá lạnh, mà thời buổi khó khăn ấy đâu dễ có đủ áo ấm. Thày Khôi cắt ngay hai cái tay áo bông đang mặc (tiêu chuẩn ưu tiên cho học sinh miền Nam ngày xưa) để tôi may áo cho cháu. Cái áo thật ấm cho cả con và mẹ!
          Bên cạnh thày Khôi là cô Vinh. Trong mắt tôi, họ là một “cặp đôi hoàn hảo”.
          Cô Vinh dạy Sinh vật, về trường sau tôi một năm và ở cùng nhà với tôi, trong khu sơ tán Rừng Cơm. Nhà bác chủ có các giếng vẫn bỏ không vì nước hỏng, không dùng được, vừa chuyển đến ở, Vinh bảo tôi: “Sáng mai, tao với mày dậy sớm cải tạo cái giếng”. Tôi sửng sốt với đề nghị táo bạo ấy. Thế mà, chỉ hai đứa thôi, trong một buổi sáng chúng tôi múc cạn nước giếng bẩn, xử lý bằng cát, vôi, sỏi, nước giếng lại trong lành. Sự kiện “lớn lao” ấy làm cho tôi rất phục cô bạn mới của mình. Sống với Vinh thật dễ chịu, cô vui vẻ, thân thiện, làm việc gì cũng nhẹ nhàng, thoải mái như không.
          Cho đến bây giờ, đã trên dưới 70 tuổi, cặp đôi Khôi –Vinh sống với nhau vẫn rất hài hòa, trẻ trung: tuần nào cũng đi bơi cùng nhau, năm nào cũng cùng nhau đi du lịch đâu đó. Và thỉnh thoảng có dịp ra Hà Nội, bao giờ họ cũng ghé thăm gia đình tôi, ngồi với nhau để nhớ về Đa Phúc, để nhắc lại những kỷ niệm vẫn rất ấm lòng về những người bạn đồng nghiệp thuở xưa của mình: thày Hải hiệu phó, dạy Chính trị, hiền từ, nhân hậu, cốt cách như một Ông tiên. Thày Bá Trường ôn hòa, mực thước, lúc nào cũng vui vẻ, thân thiện. Thày Dụng luôn chỉn chu trong công việc và sinh hoạt hàng ngày. Thày sống hòa đồng với mọi người. Gần đây, thày lại rất tâm huyết với những trang văn kén độc giả của mình. Thày Xuân Trường là tác giả của nhiều bài hát về Trường cấp 3 Đa Phúc vẫn còn được truyền tụng đến tận bây giờ. Thầy Thuận dạy Văn ở trường từ năm đầu tiên, trên miệng thày lúc nào cũng như giữ lại nụ cười chuẩn bị cho một nhận xét hóm hỉnh. Thày Soạn dạy Thể dục, rất hiền lành, chất phác. Thày đã hy sinh ở chiến trường miền Nam. Thày Thanh, cô Hạnh là những giáo viên Văn kỳ cựu của trường, đã dạy các em cho đến ngày nghỉ hưu. Và cô Nguyệt dạy Nga văn, cô Oanh dạy Hóa, cô Tuyết dạy Sinh vật v.v.
          Đã mấy chục năm rồi, nhưng tất cả chúng tôi, những người thày đầu tiên của trường, vẫn còn mãi trong nỗi nhớ của nhau, và chắc là cả trong nỗi nhớ của các em học sinh thân thương thuở ấy nữa.
         
Các em học sinh thân yêu của tôi

          Ngày tôi mới về trường, khái niệm “cô giáo Hà Nội” có vẻ như còn khá xa lạ với các em. Và, với tôi, các em học sinh nông thôn cũng là một “bí ẩn” cần khám phá. Lạ lẫm nhưng không cách biệt bởi vì cả hai phía chúng tôi đều muốn được gần gũi và thân thiện với nhau. Khoảng cách tuổi tác giữa các em và tôi không lớn lắm: học trò khoảng 16, 17 tuổi, còn cô giáo thì vừa tròn tuổi 20. Tôi thật lòng coi các em như những đứa em của mình. Và các em chắc cũng muốn xem tôi như một người chị. Ngày ấy, với nhiệt huyết của những người giáo viên trẻ, chúng tôi không chỉ truyền thụ kiến thức cho các em mà còn mong muốn chia sẻ những trải nghiệm của mình, những cảm nhận riêng, chia sẻ cùng các em tình yêu với cuộc sống, với con người. Người ta bảo rằng: giáo dục là việc để lại dấu vết của chính mình trong quá trình mở mang trí tuệ cho người khác. Và rằng: Học sinh là một ngân hàng mà giáo viên có thể gửi vào đó những tài sản quý giá nhất. Tôi nhận biết rõ điều ấy khi sau này, trong những bức thư gửi về, có em bảo: em đang trên đường ra trận, vất vả, gian nguy nhiều lắm, nhưng những vần thơ em học, những bài giảng của các thày cô đã tiếp thêm sức mạnh cho em. Có em viết: em hiểu về lẽ sống, về nhân cách, tình yêu đất nước và lòng tự trọng….là nhờ những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường, được các thày cô dạy dỗ.
          Ngay năm dạy học đầu tiên ở trường, chúng tôi được tặng một món quà quý giá từ học sinh của mình: hai giải thưởng học sinh giỏi Văn toàn tỉnh của Dũng Tiến và Đỗ Trọng Định đã mang lại niềm vinh dự cho ngôi trường nhỏ của chúng tôi.
          Còn biết bao món quà khác mà tôi không thể quên được: chiếc mũ rơm bện rất khéo đặt lên bàn cô giáo với lời lẽ mộc mạc, vụng về “Em cho cô giáo đấy”. Một lần tôi bị ốm, học sinh đến thăm rất đông, thập thò ngoài cửa.Trên tay mỗi em là một quả trứng gà. Một em gái ngả nón ra thu nhận trứng rồi trân trọng đặt lên bàn “để cô bồi dưỡng cho chóng khỏe”. Tôi rơi nước mắt về món quà thơm thảo của các em học trò nghèo ngày ấy.
          Mà ngày ấy các em thật là nghèo. Mùa đông lạnh giá, trên mình em chỉ có hai manh áo vải với bàn chân trần. Cái hình ảnh ghi đậm trong tâm trí tôi là dáng hình các em co ro trong sương sớm, trong tay là một ống bơ có những cục than hồng để chống rét trên đường đến trường. Thật lòng, các thày cô giáo không dám mặc quá ấm để lên lớp vì cảm thấy như mình có lỗi khi mà các em ngồi học đang run rẩy vì rét. Những chiều tối đến thăm các em ở nhà trọ học, mở nồi cơm, chỉ thấy những lát khoai khô với ít cơm gạo đỏ. Có những chủ nhật các em không được về nhà vì còn phải ở lại đi kiếm guột trên đồi để dành nhen lửa nấu cơm. Đồi thì xa, gánh guột lại cồng kềnh, có em thấp bé, quang gánh cứ quết đất. Mới đây, các em về Hà Nội thăm tôi, em Tề còn kể: hôm đi lấy guột, em được cô gánh đỡ. Kỷ niệm nhỏ ấy mà em nhớ đến tận bây giờ !
          Tôi vẫn nghỉ rằng mình không chỉ dạy các em mà còn học hỏi được ở các em rất nhiều điều. Các em hiền lành, chân thật, chăm chỉ, chịu thương chịu khó, vượt lên đói rét, khó khăn để học tập. Gần gũi các em, tôi học được cách yêu thương, chia sẻ, chăm lo cho người khác,thay vì những ngày còn sống ở Hà Nội, tôi chỉ biết nhận mà chẳng biết cho đi. Các em cũng rất thông minh. Cái cách phản biện của học sinh trong giờ học làm cho tôi vô cùng thích thú. Còn câu chuyện vui vui này nữa. Có lần, tôi ở Rừng Cơm ra thăm thằng em trọ học ở Lương Châu, lúc về đến quá Núi Đôi thì gặp một em học sinh lớp 9, em Nguyên, vừa đi học nhóm với các bạn ở Rừng Cơm về. Thấy cô giáo đi một mình, trời tối, em áy náy, muốn đưa tôi về trường. Cảm động về sự quan tâm của em nhưng tôi vẫn phải từ chối vì không muốn em phải đi lại nhiều lần, và nói thêm, rất thật thà (nhưng khá non nớt) rằng “Cô nghĩ đi một mình thế này cũng là một dịp để rèn luyện”. Lời đáp của em học sinh khá bất ngờ “Thế thì, thưa cô, cô cho em cùng rèn luyện với ạ”. Thật hóm hỉnh và thuyết phục!
          Đầu năm ngoái (2012), một đoàn học sinh khóa đầu tiên của tôi về Hà Nội thăm cô giáo cũ. Buổi gặp gỡ thật cảm động. Các em, sau gần một nửa thế kỷ, tóc đã điểm bạc cả rồi, vẫn còn nhớ đến tôi! Vẫn nghe tiếng gọi “cô” rất thân thương. Bao nhiêu chuyện cũ được nhắc lại. Cả bài “Hịch tướng sĩ văn” học năm lớp 8 cũng được em Hoạt đọc bằng cái giọng rất hào sảng và truyền cảm. Lại có cả “Bài kiểm tra viết 15 phút” để các em viết về những kỷ niệm của lớp 8A ngày ấy. Những mái đầu lại cắm cúi trên trang giấy. Những vẻ mặt lại ngẫm nghĩ, suy tư. Cả một chặng đường dài đã đi qua. Hôm nay, các em về đây, như quá khứ đang hiện hữu trước mặt tôi. Ngắm nhìn các em quây quần xung quanh mình, trong tôi như vỡ òa những cảm xúc của một thời xa xưa.
          Một buổi gặp mặt khác cũng rất xúc động và thật đáng nhớ. Vào dịp 20/11 vừa qua (2012), thày Khôi và cô Vinh ra Hà Nội. Chúng tôi hẹn nhau về Đa Phúc chơi, đến thăm các anh chị cùng dạy học ngày xưa. Mục đích của chuyến đi là như thế. Không ngờ ngày hôm đó nhà trường cũng tổ chức chào mừng ngày 20/11. Chúng tôi được mời vào dự lễ kỷ niệm. Một không khí tưng bừng và nồng nhiệt. Những bàn tay ân cần và trìu mến. Những gương mặt lạ mà như rất thân quen. Tình cờ đến mà cứ như đang được mong chờ. Bỗng nhiên, tôi lại nhớ đến một tục lệ ở các nước phương tây là vào dịp lễ Giáng sinh người ta thường dành sẵn một chỗ trống nơi bàn ăn cho người thân ở xa bất chợt trở về. Và người ta khuyên “Hãy ước là bạn luôn có một chỗ trống như thế trong cuộc sống và trong trái tim, để dành cho kỷ niệm, và sau đó là những yêu thương sẽ có chỗ để hạ cánh và vĩnh viễn ngự trị”. Có lẽ không còn phải ước nữa, chúng tôi tin rằng dù ở cách xa bao nhiêu, dù thời gian xa cách dài đến mấy thì ở đây, dưới mái trường này, mỗi người chúng tôi vẫn được dành sẵn một chỗ trống, chúng tôi vẫn luôn được chờ mong, đón đợi. Và trong lòng chúng tôi cũng vậy, lúc nào cũng có một chỗ trống để đong đầy những kỷ niệm thân yêu về mái trường xưa, đong đầy tình thương mến của những người bạn đồng nghiệp mới ngày hôm nay.

 
Phi Tuyết Hinh
(Cựu giáo viên trường THPT Đa Phúc)


 

Tác giả bài viết: Phi Tuyết Hinh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

 

Tin xem nhiều

    Thống kê truy cập

    Đang truy cậpĐang truy cập : 11


    Hôm nayHôm nay : 587

    Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10003

    Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 853944

    Vui một tí.

    Bạn về dự hội trường Đa Phúc vào tháng 11/2013 với mục đích gì?

    Thăm lại trường xưa.

    Gặp lại bạn cũ và thầy cô.

    Tri ân trường cũ và đóng góp vào ngày vui của trường.

    Tò mò xem có gì trong ngày hội trường.

    Lý do khác.